Thi hương, thi hội, thi đình…

Kỳ 1 : Sĩ tử thời xưa

ywtI7pmv.jpgPhóng to
Quang cảnh trường thi Nam Định khoa thi năm Nhâm Tý (1912) với chòi canh và lều chõng của thí sinh – Ảnh tư liệu

Thi từ sáng sớm đến tối mịt
Trống điểm canh tư ( chừng 1 g sáng ) thí sinh phải xuất hiện ở trường thi để nghe gọi tên, đến khoảng chừng canh năm tám khắc ( khoảng chừng 5 g sáng ) thì thí sinh phải vào hết trong trường. Thí sinh làm bài cho đến giờ Thân ( 3-5 giờ chiều ) thì mở màn nộp bài, hạn cuối là hết canh một ( tức 19 g ). Vì vậy, thí sinh vào trường phải sẵn sàng chuẩn bị rất đầy đủ lều, chõng, chiếu, tráp đựng nghiên, bút, giấy, mực, dao kéo … và thức ăn dùng trong một ngày .

Quan trọng nhất là chuẩn bị quyển thi (tức giấy làm bài thi đóng thành quyển), phải giữ gìn hết sức sạch sẽ. Quyển thi là do thí sinh đem nộp trước cho dinh đốc học để kiểm tra, đóng dấu. Khi quan trường gọi đúng tên, thí sinh phải “dạ” thật to rồi vào cổng trường thi để nhận lại quyển thi. Vào trường thi, thí sinh tìm chỗ cắm lều, đặt chõng, đến khi sáng rõ mặt thì xong để chuẩn bị làm bài thi.

Tứ trường và thiên kinh vạn quyển
Theo Khâm Định Đại Nam Hội điển sự lệ, thi hương có khi thi ba vòng ( người xưa gọi tam trường ) có khi thi bốn vòng ( tứ trường ). Vòng một thi kinh nghĩa ( tức những sách tứ thư, ngũ kinh của Nho giáo ), vòng hai thi chiếu biểu ( tức soạn thảo những văn bản hành chính như chiếu, biểu, sớ, dụ … ), vòng ba thi thơ phú ( sáng tác theo chủ đề của đề thi ), vòng bốn thi văn sách ( tựa như như thi tự luận ) .
Vòng thi kinh nghĩa tương đối dễ với thí sinh, chỉ cần thuộc lòng tứ thư, ngũ kinh và trình diễn cho đúng ý của người xưa. Vòng thi chiếu biểu phải thuộc hàng trăm bài loại này rồi chắt lọc tinh hoa để viết thành bài thi. Dễ làm và khó đỗ nhất là kỳ thi thơ phú. Dễ vì suốt cả ngày chỉ cần sáng tác một bài thơ tối đa 16 câu và một bài phú tám câu, nhưng cái khó là phải hay, vì cái hay nó vô cùng .
Vòng bốn thi văn sách thì tự do trình diễn theo kiến giải riêng của mình, tựa như như thi tự luận thời nay. Muốn qua được vòng thi này, không những phải làu thông kinh sử mà còn phải biết vận dụng sở học của mình để trình diễn những kiến giải mới lạ. Đề thi thường hỏi đủ mọi nghành : thiên văn, địa lý, bói toán, y học … ; đặc biệt quan trọng là những câu hỏi về thời sự, yên cầu thí sinh phải có những kiến giải độc lạ và đưa ra giải pháp khả thi. Thi tứ trường nhưng phải học thiên kinh vạn quyển là thế !
Mang tài liệu vào trường thi : gông cổ, đánh 100 roi
Không được mang tài liệu vào trường thi ; không chuyện trò ồn ào, đi lại lộn xộn ; không được quên đóng dấu “ nhật trung ” ( là dấu giáp lai những trang bài thi, dấu xác lập bài thi được làm tại trường thi … ) ; cấm ngồi không đúng chỗ, tự ý vứt bỏ hoặc thay thế sửa chữa bảng tên ; cấm kê khai gian lận tên tuổi ; cấm nộp bài trễ hạn. Các pháp luật đó xem ra cũng không khác gì giờ đây, nhưng hình phạt cho người vi phạm thì rất nghiêm khắc. Nếu bị phát hiện mang tài liệu vào phòng thi sẽ bị đóng gông một tháng, sau đó bị đánh 100 roi. Nói chuyện ồn ào thì không những thí sinh bị trị tội mà còn truy tội cả những vị quan đốc học, giáo thụ và huấn đạo ở địa phương .
Trong bài thi lại có những lao lý khác, rắc rối và ngặt nghèo hơn, hầu hết là những lỗi về hình thức mà thí sinh phải tránh. Đầu tiên là lỗi khiếm tị ( không biết tránh chữ húy ). Bài thi của thí sinh phải tránh viết những chữ húy kỵ của triều đình, đó là tên của toàn bộ những đời vua, hoàng hậu, kể cả ông bà tổ tiên vua ; rồi thì tên lăng, miếu, cung, điện, làng quê của vua …
Sau lỗi khiếm tị là lỗi khiếm trang và khiếm đài. Khiếm trang có nghĩa là thiếu phần thanh nhã, do dùng những từ thô tục về nghĩa cũng như về âm, thiếu tôn kính với những từ tôn nghiêm. Đang hành văn mà gặp những từ tôn kính như thiên, địa, đế, hậu … thì phải tự động hóa sang hàng và đài ( nâng cao lên trong dòng chữ ). Nếu không là mắc lỗi khiếm đài .
Chưa hết, bài thi phải viết loại chữ chân phương, thiếu một nét, một chấm xem như mắc lỗi. Quyển thi nếu bị ố bẩn, tì vết, xem như làm dấu cũng bị đánh rớt. Lệ còn lao lý mỗi quyển thi không được đồ ( xóa bỏ ), di ( sót ), câu ( móc ), cải ( sửa ) quá 10 chữ. Khi làm xong bài, cuối quyển thi phải ghi rõ số chữ đã đồ, di, câu, cải. Nếu đồ, di, câu, cải vượt quá 10 chữ, hoặc sai sót, ố bẩn, tì vết không hề khắc phục thì đem lên quan trường xin đổi quyển thi khác hợp lệ. Phạm vào lỗi gì đều được niêm yết rõ lên bảng con ở mỗi khu vực cho thí sinh biết vì sao mà hỏng thi .

Những thí sinh chỉ đỗ được ba trường thi hương thì được học vị tú tài. Những thí sinh vượt qua được cả bốn trường thì được học vị cử nhân, được ban cấp áo mão, ban yến (đãi tiệc), rồi vinh quy bái tổ.

Tiếp tục cuộc đua tiến sỹ
Tân cử nhân về quê liên tục đèn sách đợi sang năm vào kinh đô dự kỳ thi hội, cùng với những cử nhân của những khoa trước đó, những thí sinh đã vượt qua một kỳ khảo hạch đặc biệt quan trọng do triều đình, và 1 số ít ít quan lại muốn có học vị cao hơn. Cách thức làm bài và trường quy thi hội không khác mấy với thi hương, chỉ khác là phạm quy thì bị tội nặng hơn .
Thi hội không có truyền lô ( xướng danh ) nhưng lễ yết bảng ( công bố tác dụng ) rất trang trọng. Bảng chính ghi tên những người đạt hạng trúng cách, bảng thứ ghi tên người hạng thứ trúng cách .
Chỉ những người trúng cách mới được liên tục tham gia thi đình, tổ chức triển khai trong cung đình, do đích thân nhà vua ra đề và là người chấm thi ở đầu cuối. Quyển thi và quyển nháp đều do bộ Lễ cấp, có rọc phách hẳn hoi. Vua chấm thi vẫn không biết bài đó của ai. Thi đình thực ra là cuộc phúc tra sau cuối nhằm mục đích đánh giá và thẩm định và xếp hạng những tân tiến sĩ .
Sau khi vua chấm bài thì học vị của những sĩ tử được quyết định hành động và bảng vàng ghi danh là vinh hiển tột cùng. Các tiến sỹ có tên niêm yết trên bảng vàng sẽ được ban yến tiệc trong cung, được bệ kiến hoàng thượng, được thăm hoa ở vườn ngự uyển, được cưỡi ngựa dạo khắp kinh thành, rồi vinh quy bái tổ. Phần thưởng cao quý nhất cho tiến sỹ là được khắc tên vào bia đá đặt ở Văn Miếu để lưu danh mãi mãi .

Hệ thống học vị dưới triều Nguyễn
1. Thi hương đỗ tam trường ( ba vòng đầu ), đạt học vị : tú tài ; đỗ tứ trường : hương cống ( về sau gọi là cử nhân ) ; đỗ thủ khoa : giải nguyên .
2. Thi hội : đỗ bảng chính gọi là trúng cách được liên tục dự thi đình ; đỗ bảng thứ là thứ trúng cách, được học vị : phó bảng ; đỗ thủ khoa : hội nguyên .

3. Thi đình: đỗ thi đình đạt học vị chung là tiến sĩ; đỗ thủ khoa: đình nguyên. Trong đó, đỗ từ 8-10 điểm được xếp bậc đệ nhất giáp. 10 điểm được lấy đỗ đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ đệ nhất danh, thường gọi là trạng nguyên. 9 điểm: đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ đệ nhị danh, thường gọi là bảng nhãn. 8 điểm: đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ đệ tam danh, thường gọi là thám hoa.

Xem thêm: Sail off là gì

—————————————————-

21 lần đi thi, đến năm 82 tuổi mới đậu cử nhân. Đó là thí sinh đặc biệt nhất trong lịch sử thi cử Việt Nam.

Kỳ tới:21 lần thi, 82 tuổi mới đậu

Related Posts

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.